20/07/2023

Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh

SHOWROOM TRIỂN LÃM 3D


THƯ VIỆN ẢNH - VIDEO


THÔNG TIN GIỚI THIỆU

Sử Anh TEA Tinh Hoa Trà Việt

Đặc sản chè Ngọc Thúy có hương vị thơm, ngon nên được nhiều khách hàng trong và ngoài tỉnh biết đến. Đây là sản phẩm của Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh. Hợp tác xã đã đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Sử Anh TEA Tinh Hoa Trà Việt, hình. Giống chè Ngọc Thúy có nguồn gốc từ Đài Loan và được đưa vào Việt Nam năm 1994. Chè có nhiều công dụng: Giảm stress, tăng cường sức đề kháng, chống cảm mạo. Giảm nguy cơ mắc bệnh xơ cứng động mạch, tiểu đường…

Đặc sản chè Ngọc Thúy có hương vị thơm, ngon, nước chè có vị đậm, người uống cảm nhận được vị đắng dịu sau đó chuyển sang vị ngọt lâu, hương thơm dịu, chè khô có mẫu mã đẹp, đặc biệt là chất lượng ngon, ổn định. Giống chè này rất “khó tính”, cây chè, búp chè cũng khá mảnh mai do đó khi chăm sóc, thu hoạch phải tuân thủ các quy trình nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn VietGAP. Khi trồng phải xen kẽ các cây gỗ cao tạo bóng mát, vừa giữ nước vừa tạo độ ẩm thích hợp cho cây chè phát triển.

Theo anh Nguyễn Công Sử, Giám đốc Hợp tác xã, hàng năm Hợp tác xã đều bỏ ra khoản kinh phí vài triệu đồng để gửi mẫu đất về Viện Thổ nhưỡng Nông hóa để phân tích các chỉ tiêu N, K, P, Ca, Mg… làm cơ sở để sử dụng phân bón hợp lý, chuẩn dinh dưỡng, tránh tình trạng cây “bội thực” chất này, nhưng lại “đói” chất kia”.

Tất cả phân bón, thuốc trừ sâu bệnh cho chè đều có nguồn gốc hữu cơ. Anh Sử đã chủ động liên hệ với Viện Nghiên cứu, Đào tạo và Tư vấn khoa học công nghệ Việt Nam để nhận được hỗ trợ, cung ứng thuốc phòng trừ sâu bệnh sinh học Anisaf SH-01, đây là thuốc trừ sâu bệnh sinh học được chiết suất 100% từ thảo mộc. Do đó, quá trình sản xuất đảm bảo về môi trường và chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng. Nhờ được chăm sóc tốt nên năng suất chè trung bình đạt từ 6,5 – 7,5 tấn chè búp tươi/ha/năm.

Để đảm bảo giữ được hương vị đặc trưng của chè, tất cả chè búp tươi đều được hái bằng tay, theo quy chuẩn 1 tôm 2 lá và chỉ thu hái vào lúc thời tiết râm mát đầu buổi sáng, buổi chiều muộn. Cơ sở sản xuất chè của anh tạo việc làm thường xuyên cho gần 30 lao động địa phương với mức thu nhập trên 3 triệu đồng/người/tháng.

Song song với việc chăm sóc chè đúng tiêu chuẩn, anh Sử còn đầu tư nhà xưởng, hệ thống dây chuyền chế biến, bao bì đóng gói chè hiện đại. Đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chè bằng uy tín, chất lượng. Năm 2013, anh Sử may mắn được “trợ sức” kịp thời khi Trung tâm Khuyến công tỉnh hỗ trợ tiếp tục đầu tư hoàn thiện dây chuyền sản xuất hiện đại, gồm máy sao chè, máy vò chè, máy hút chân không…

Tháng 5-2016, anh Sử được vay 500 triệu đồng với lãi suất ưu đãi theo Nghị quyết số 10/2014/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh. Nguồn vốn giúp anh thực hiện dự định đầu tư hệ thống tưới nước hiện đại cho toàn bộ diện tích chè.

Cứ 4 – 4,5 kg chè tươi sao được 1 kg chè khô, với giá bán 350 nghìn đồng/kg chè khô trung bình mỗi năm, Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh xuất bán ra thị trường từ 7 – 10 tấn chè khô, thu lãi trên nửa tỷ đồng/năm. Đến nay, sản phẩm chè Ngọc Thúy không chỉ cung cấp cho thị trường trong tỉnh mà còn vươn tới thị trường các tỉnh, thành phố khác như Phú Thọ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Nam, Bắc Giang, TP Hồ Chí Minh…

CHÈ ĐẶC SẢN VIETGAP XỨ TUYÊN

Thực hiện nguyên tắc “4 đúng” trong trồng chè đặc sản, HTX chè Sử Anh, xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) đã có thương hiệu, mở rộng vùng nguyên liệu, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương.

Anh Nguyễn Công Sử, Giám đốc HTX Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh là “con nhà nòi” làm chè. Bố mẹ anh đều là nhân viên nhiều năm gắn bó với Công ty cổ phần chè Mỹ Lâm. Vì vậy ngay từ nhỏ anh đã được tiếp xúc với chè. Đây cũng là lợi thế để anh nắm bắt được các quy trình kỹ thuật chăm sóc cũng như nhận biết được thu hái như thế nào để được chè thơm ngon.

Anh Sử khởi nghiệp từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên phải đến năm 2011 anh mới bắt tay vào trồng chè đặc sản theo hướng an toàn. Sau 6 năm làm anh nhận thấy, muốn mở rộng thị trường thì không thể dừng lại ở mô hình kinh tế hộ. Vì vậy năm 2017, HTX Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh ra đời với 7 hội viên.

Trong những năm tháng làm chè, anh Sử cũng có những chuyện đáng nhớ. Đó là chuyện ở xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương người dân muốn phá bỏ vườn chè đặc sản vì không được giá. Nghe vậy anh về tận nơi vận động thuyết phục, cam kết sẽ thu mua giá 33.000 đồng/kg nếu người dân đảm bảo quy trình chăm sóc sạch, thu hái thủ công và phải 1 tôm 2 lá. Vì thế hơn 2 năm nay người dân ở vùng này không chỉ coi anh là đối tác làm ăn mà còn là bạn. Họ luôn tin tưởng đồng hành cùng anh trong chiến lược phát triển chè sạch đặc sản.

Không ngừng nỗ lực, HTX chè Sử Anh đã lớn dần. Khi mới thành lập, HTX có 10 ha sử dụng 20 lao động. Đến nay đã có 30 ha sử dụng trên 50 lao động tại địa phương; đồng thời đã chuyển đổi thay toàn bộ diện tích bằng các giống chè mới có năng suất, chất lượng như chè Ngọc Thúy, chè Bát tiên, chè LDP1; sản lượng trung bình đạt 125 tấn nguyên liệu/năm. Toàn bộ diện tích được áp dụng theo quy chuẩn VietGAP. Tham gia mô hình người nông dân cần tuân thủ nghiêm nguyên tắc “4 đúng” (Đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng phương pháp).

Chị Hoàng Thị Mai, thôn 12, xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn cho biết, trong khi cùng giống chè nhiều hộ gia đình không nằm trong vùng nguyên liệu của HTX do tham năng suất nên việc thu hái, chăm sóc không đúng quy trình nên dù năng suất đạt 80 tấn/ha, giá bán chỉ đạt từ 10.000 đến 15.000 đồng/kg nên tổng giá trị đạt xấp xỉ 100 triệu đồng/ha. So sánh diện tích chè thu hái theo yêu cầu của HTX dù năng suất chỉ đạt 40 tấn/ha, nhưng với giá 30.000 đồng/kg thì số tiền thu về đạt 120 triệu/ha. Gia đình chị liên kết gắn bó với HTX được gần 2 năm nay.

HTX hiện có 4 loại chè thành phẩm chủ lực, gồm có 2 loại chè Ngọc Thúy và 2 loại chè khô chế biến từ giống Bát Tiên và giống chè LDP1. Trong đó có sản phẩm chè xanh túi lạnh Ngọc Thúy được thị trường khá yêu thích. Bởi khi pha sắc nước trong chén trà sánh vàng, tỏa hương ngào ngạt và khi uống có vị ngọt đọng sâu trong cổ họng.

Hằng năm doanh thu từ sản xuất chè của HTX Sử Anh đạt trên 5,75 tỷ đồng. Sản phẩm chè của HTX có mặt tại thành phố Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Nam… Đến năm 2020, HTX phấn đấu mở rộng thêm 20 ha vùng nguyên liệu tại các huyện có diện tích chè shan đặc sản lớn như Na Hang, Lâm Binh.

Ông Nguyễn Văn Thuấn, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Tuyên Quang cho biết, HTX Sử Anh là một trong những đơn vị sản xuất chè sạch tiêu biểu của tỉnh. HTX đã được Chi cục xác nhận chuỗi cung ứng sản phẩm an toàn; toàn bộ sản phẩm của HTX bán ra thị trường đã được dán tem điện tử mã cốt QR để truy xuất nguồn gốc và chống hàng giả.

Lịch sử

Đam mê nông nghiệp xanh

Cặp vợ chồng làm nên tên tuổi chè nức tiếng Tuyên Quang

Chè xanh túi lạnh Ngọc Thúy là sản phẩm rất được ưa chuộng. Sắc nước trong chén trà sánh vàng, tỏa hương thơm dịu, uống có vị ngọt đọng sâu trong cổ họng…

Anh Sử và chị Vân Anh bên các sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao của hợp tác xã Sử Anh. Nổi bật trong số này là chè Ngọc Thúy. Ảnh: Bảo Thắng.

Chè là nắng, là mồ hôi

“Cây chè trông như nào nhỉ?”. Mỗi lần nhắc tới câu ấy là chị Trần Thị Vân Anh, xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang lại cười ngất.

Thế mà giờ chị là chủ của một thương hiệu chè có chứng nhận OCOP 4 sao, vài ba xưởng đỏ lửa ngày đêm sản xuất. Thế nhưng độ 20 năm trước, cô giáo trẻ tuổi đôi mươi chưa một lần thấy cây chè. Dù quê Tuyên Quang, những gì chị biết về đặc sản quê hương chủ yếu qua lời kể.

Mãi tới ngày quen, rồi se duyên cùng anh Nguyễn Công Sử, đội phó Hợp tác xã chè Mỹ Lâm ở huyện Yên Sơn, Vân Anh mới được mục sở thị cây chè. Nhưng với cô giáo trẻ mới ra trường ngày ấy, chè chẳng lãng mạn như những vần thơ trong Truyện Kiều: “Khi hương sớm lúc trà trưa – Bàn lan điểm nước đường tơ họa đàm”. Với chị, chè là nắng, là mồ hôi, là những ngày địu con trên lưng, và cũng là những đêm mất ngủ khi vào vụ.

Sở dĩ Vân Anh “say chè” như thế là bởi chồng chị – anh Sử là người duy nhất trong số 6 anh em theo nghiệp cha. Là thế hệ thứ hai ở vùng chè, có bố từng là bộ đội chống Pháp lên xây dựng Nông trường chè Tháng Mười hồi thập niên 50, anh Sử thường bông đùa với chị là “quen chè trước khi quen vợ”. Chẳng thế mà hương thơm của chè mỗi khi lên men hay chuẩn bị đóng gói đi vào giấc mơ lúc nào không hay. Chỉ biết, với anh Sử, chè vừa là đam mê, cũng vừa là cái nghiệp gắn bó cả đời.

Hợp tác xã chè Sử Anh quán triệt kỹ thuật hái 'một tôm hai lá', 'một tôm một lá' tới toàn bộ công nhân. Ảnh: Bảo Thắng.

Hợp tác xã chè Sử Anh quán triệt kỹ thuật hái ‘một tôm hai lá’, ‘một tôm một lá’ tới toàn bộ công nhân.

Yêu và chia sẻ cùng chồng, chị Vân Anh coi những nương chè như tổ ấm thứ hai. Hồi chưa về chung một nhà, chị tranh thủ buổi tối, sau khi hết giờ dạy trên lớp, vác gùi lên đồi chè cùng người yêu.

Cuối tuần, bạn bè cùng trang lứa đi chơi chỗ nọ chỗ kia, còn chị chỉ đăm đắm vào những luống cây xanh mướt, mọc cao ngang thắt lưng. Từ chỗ xa lạ, chè với chị thành người thân, cả khi nắng lẫn khi mưa. Bụng mang dạ chửa, hay con mới được vài tháng, chị vẫn không từ nhiệm vụ hái chè.

“Tôi vất vả thế, một phần cũng vì anh Sử”, chị Vân Anh hóm hỉnh nói, kèm cái lườm yêu về phía chồng. Những năm 2000, khi mới là người yêu, anh Sử nhận thêm hơn 6 ha đất trồng chè từ đội 19 của công ty.

Đây là phần đất trung du, chè già cỗi, mất khoảnh, năng suất thấp nên không hộ nào nhận. Thân là đội phó, anh mạnh dạn gánh vác, rồi động viên chị cùng gia đình mua cả trăm tấn phân trâu bò của bà con quanh vùng đổ vào đồi chè.

Phần việc đáng nhẽ làm một, nay phải tăng gấp ba, nên anh Sử không thể “quên” người bạn gái. Đến cả tận sau này, khi đã có chút vốn liếng và cơ ngơi khang trang, chị Vân Anh vẫn xắn tay vào phụ những công việc thường nhật, từ hái chè, vò chè, cho tới cả khâu đóng gói, chào hàng, bán thành phẩm.

“Có lần trời nắng chang chang, tôi mải làm quên cả ăn uống. Xong tự dưng mắt mờ đi, ngã vật ra đất. Nhiều người từng hỏi, tôi có bị ‘say nắng’ chồng không mà lặn lội về đồi chè này. Sau hôm ấy, chắc tôi không thể chối được nữa”, chị Vân Anh nhớ lại kỷ niệm một lần bị ngất giữa đồi chè.

Anh Sử thăm đồi chè gần nhà tại xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang. Ảnh: Bảo Thắng.

Đổi đời nhờ đổi thay công nghệ

Ngày đầu về làm dâu vùng chè, chị Vân Anh đâu hề được đón bởi những luống chè cuốn quanh đồi bát úp theo hình vành khăn như bây giờ. Khó khăn càng tăng khi vào năm 2009, chị thi đỗ công chức và được điều động vào trong xã Kiến Thiết, huyện Yên Sơn, cách nhà 60 km. Lúc ấy, bé thứ hai nhà anh chị được 6 tháng, còn bé đầu 4 tuổi. Bàn tính ngược xuôi, cuối cùng chị mang đứa nhỏ vào Kiến Thiết, để anh Sử “gà trống nuôi con” đứa con lớn.

“Ba năm ấy, tuần nào tôi cũng mong đến thứ sáu, bởi chồng sẽ lên đón vào buổi chiều. Cứ như thế, gia đình 4 người vượt mấy chục kilomet về nhà. Có những hôm mưa to, căn nhà cấp bốn trông chẳng khác gì cái ao. Đến nơi mà tôi vẫn không thể nhận ra nổi nhà mình”, chị Vân Anh kể, giọng rơm rớm.

Năm 2009 cũng là quãng thời gian khó khăn với Hợp tác xã chè Sử Anh của anh chị. Vốn bắt đầu tách ra làm riêng từ 2005, nhưng mấy năm đầu, xưởng của anh còn làm thủ công. Chi phí bỏ ra nhiều khi ngang với doanh số nhận lại.

Vợ xa nhà trùng với lúc thời tiết bất thường. Hạn hán xảy ra liên miên. Đỉnh điểm là vào những năm 2012, 2013, chè chết hàng loạt khiến anh từng nghĩ đến chuyện “dừng cuộc chơi”.

“Đằng sau một người đàn ông thành công luôn có bóng dáng người phụ nữ”, câu nói ấy ứng nghiệm với gia đình anh Sử. Mấy phen tính chuyển nghề khác, nhưng được chị Vân Anh động viên, thậm chí tán thành việc thế chấp sổ đỏ lấy vốn, anh nguôi ngoai và chấp nhận làm lại.

Đó cũng là lúc, những búp chè đặc sản Ngọc Thúy canh tác theo công nghệ sinh học ANISAF SH-01, vốn là nguyên liệu chế biến chè xanh nội tiêu sinh lời.

Dù đầu tư máy diệt men và sao chè lên tới cả trăm triệu đồng, anh Sử vẫn kiểm tra kỹ lưỡng từng mẻ chè sau khi ra lò. Ảnh: Bảo Thắng.

Dù đầu tư máy diệt men và sao chè lên tới cả trăm triệu đồng, anh Sử vẫn kiểm tra kỹ lưỡng từng mẻ chè sau khi ra lò. Ảnh: Bảo Thắng.

Nhờ kịp thời chuyển đổi công nghệ chế biến chè đen từ OTD (kiểu truyền thống) sang CTC (kiểu mới) trước đó vài năm, xưởng của gia đình anh chị nhuần nhuyễn các bước, từ làm héo, lên men, vò chè, cho tới sao khô, đánh mốc, lấy hương.

Cộng thêm vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị, cơ sở sản xuất được hàng chục tấn chè thành phẩm, đem lại doanh thu tiền tỷ.

Những sản phẩm tiêu biểu của gia đình anh Sử là hai loại chè Ngọc Thúy, gồm chè khô sao suốt, và chè tươi xanh (còn gọi chè túi lạnh). Ngoài ra là hai loại chè khô chế biến từ giống Bát Tiên và giống PH1.

Trong đó, chè xanh túi lạnh Ngọc Thúy là sản phẩm thường được hỏi nhất. Sắc nước trong chén trà sánh vàng, tỏa hương thơm dịu, uống có vị ngọt đọng sâu trong cổ họng. Khác với các loại chè sao suốt khác, chè túi lạnh Ngọc Thúy khi mở ra vẫn tươi nguyên như chỉ qua máy vò.

Thông tin liên hệ

Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh

Mã số thuế:
5000841724
Địa chỉ:
Thôn 17, Xã Phú Lâm, Huyện Yên Sơn, Tuyên Quang
Điện thoại:
[/lightbox]