04/12/2025

Phỏng Vấn Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Quân ( Vì Sao Xanh Hóa Sản Xuất )

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải, xây dựng nền kinh tế tuần hoàn và thích ứng với các yêu cầu xanh hóa thương mại toàn cầu, việc tăng cường chính sách hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) xanh hóa sản xuất và mở rộng thị trường là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Để làm rõ vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân, một trong những chuyên gia dẫn đầu trong nghiên cứu và tư vấn về kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.

PV: Thưa ông, vì sao xanh hóa sản xuất và tiêu dùng lại trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các cơ sở CNNT hiện nay?

PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân: Xu thế “xanh hoặc không có tương lai” đang diễn ra trên toàn cầu. Biến đổi khí hậu, chiến tranh thương mại, khan hiếm nguyên liệu, áp lực từ các thị trường lớn như EU và các hiệp định thương mại thế hệ mới khiến doanh nghiệp phải tuân thủ hàng loạt tiêu chuẩn bền vững mới. Đồng thời, 63% người tiêu dùng hiện nay ưu tiên sản phẩm gắn với phát triển bền vững.

Với các cơ sở CNNT, đây vừa là áp lực, vừa là cơ hội. Khi địa phương biết tận dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, doanh nghiệp nhỏ có thể giảm chi phí nguyên liệu, gia tăng giá trị sản phẩm từ phế phẩm, đồng thời mở rộng cơ hội vào chuỗi giá trị xanh.

Toa Dam Da Nang 1

Hình ảnh PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân tham dự Tọa đàm về Chuyển đổi xanh do Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh tổ chức

PV: Những cơ chế, chính sách nào đang tạo khung hành lang quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi xanh và tiêu thụ sản phẩm CNNT?

PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân: Hệ thống chính sách hiện nay tương đối đầy đủ, có thể chia thành bốn nhóm lớn:

Thứ nhất là Khung pháp lý về kinh tế xanh – kinh tế tuần hoàn

  • Luật BVMT 2020 lần đầu tiên quy định về kinh tế tuần hoàn, trách nhiệm tái chế, thiết kế sinh thái.
  • Quyết định 687/QĐ-TTg về phát triển KTTH và 222/QĐ-TTg (2025) về Kế hoạch hành động KTTH đến 2035.
  • Cơ chế EPR (Nghị định 05/2025) giúp hình thành thị trường tái chế, tạo nguồn nguyên liệu tuần hoàn cho CNNT.

Thứ 2 là Hệ thống chính sách thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững

  • Quyết định 889/QĐ-TTg về sản xuất – tiêu dùng bền vững 2021–2030.
  • Hệ thống 750 tiêu chuẩn kỹ thuật xanh, nhãn sinh thái, nhãn năng lượng, nhãn carbon… giúp doanh nghiệp chứng minh tính bền vững khi tiếp cận thị trường.

Thứ 3 là các chính sách của ngành Công Thương

  • Các chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; sản xuất sạch hơn; kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của Bộ Công Thương.
  • Chỉ thị 14/CT-BCT (2024) yêu cầu toàn ngành lồng ghép KTTH vào chính sách công nghiệp, mở rộng thị trường vật liệu tái chế, phát triển mô hình doanh nghiệp xanh.

Thứ 4 là các chính sách địa phương và khuyến công

  • Nhiều địa phương đã lồng ghép tiêu chí xanh vào lựa chọn dự án khuyến công; hỗ trợ thiết bị tiết kiệm năng lượng, công nghệ sạch; triển khai điểm mô hình KTTH trong nông nghiệp – công nghiệp.

Những chính sách này tạo nền tảng quan trọng để xúc tiến thị trường sản phẩm CNNT theo hướng xanh hóa.

PV: Vậy đối với công tác xúc tiến tiêu thụ, đâu là những giải pháp trọng tâm mà các trung tâm khuyến công cần tập trung?

PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân: Tôi cho rằng có ba trụ cột lớn:

Trụ cột thứ nhất là Xây dựng năng lực xanh cho cơ sở CNNT

  • Hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá vòng đời sản phẩm, cải tiến bao bì, lượng hóa phát thải.
  • Hỗ trợ lấy chứng nhận xanh, nhãn sinh thái; đổi mới công nghệ theo hướng tiết kiệm năng lượng.
  • Đào tạo quản lý chuỗi cung ứng xanh, logistics xanh.

Trụ cột thứ 2 là Xúc tiến thị trường theo hướng “Gian hàng xanh CNNT”

  • Tổ chức hội chợ chuyên đề sản phẩm xanh, kết nối vào hệ thống siêu thị và sàn thương mại điện tử.
  • Xây dựng câu chuyện sản phẩm dựa trên giá trị tuần hoàn và ESG để doanh nghiệp có thể tiếp cận người tiêu dùng đô thị và xuất khẩu.
  • Thúc đẩy mua sắm công xanh, ưu tiên sản phẩm CNNT đạt chuẩn.

Toa Dam Da Nang1 1

Toa Dam Da Nang2 1

Hình ảnh một số gian hang xanh của cơ sở CNNT được Hỗ trợ tham gia Hội chợ quốc tế từ nguồn kinh phí Khuyến công

Trụ cột thứ 4 là Thúc đẩy tài chính xanh và cơ chế chia sẻ chi phí

  • Hỗ trợ chi phí chứng nhận, chi phí chuyển đổi công nghệ.
  • Khuyến khích hợp tác 3 bên: địa phương – doanh nghiệp – ngân hàng (tín dụng xanh).
  • Hình thành cụm liên kết để doanh nghiệp nhỏ cùng dùng chung thiết bị, giảm chi phí.

PV: Nhiều nội dung trong tham luận của ông đề cập mô hình KTTH trong nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp. Những mô hình này có thể hỗ trợ xúc tiến tiêu thụ sản phẩm CNNT như thế nào?

PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân: Kinh tế tuần hoàn giúp tăng giá trị sản phẩm và tạo ra câu chuyện bền vững — đây là yếu tố thị trường rất quan trọng. Ví dụ:

  • Công ty Vĩnh Hoàn – Đồng Tháp đã tái sử dụng 100% phụ phẩm cá tra thành dầu cá, collagen, gelatin… Từ đó tạo ra chuỗi sản phẩm đa dạng và nâng giá trị thương hiệu.
  • Trong nông nghiệp, mô hình tận dụng rơm rạ làm phân hữu cơ, than sinh học hay silica giúp hình thành các sản phẩm mới cho cơ sở CNNT.
  • Trong chăn nuôi, mô hình biogas – phân bón – tái tạo năng lượng giúp giảm chi phí nhiên liệu, cải thiện hình ảnh doanh nghiệp.

Những mô hình này tạo ra sản phẩm có nền tảng “xanh – tuần hoàn”, từ đó dễ quảng bá, dễ kết nối thị trường và phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới.

PV: Ở góc nhìn chính sách, đâu là các rào cản lớn nhất khiến sản phẩm CNNT xanh khó tiếp cận thị trường?

PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân: Ba nhóm rào cản nổi bật:

Nhóm thứ nhất là Thiếu chuẩn hóa: doanh nghiệp nhỏ khó đáp ứng tiêu chí ESG, nhãn xanh, yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Nhóm thứ 2 là Chi phí tuân thủ cao: đầu tư công nghệ sạch, thiết kế sinh thái, thu gom – tái chế theo EPR.

Nhóm thứ 3 là Liên kết thị trường yếu: thiếu chuỗi cung ứng xanh, thiếu đầu mối tiêu thụ ổn định.

Giải pháp là phải hình thành mạng lưới cố vấn chuyển đổi xanh cho SMEs, thúc đẩy cơ chế thử nghiệm sandbox trong công nghệ, và tạo quỹ hỗ trợ chuyển đổi cho CNNT.

PV: Xin ông chia sẻ một số khuyến nghị cho cơ quan khuyến công nhằm triển khai hiệu quả hơn trong thời gian tới.

PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân: Tôi xin mạn phép đề ra một số khuyến nghị sau:

Đầu tiên là cần Lồng ghép tiêu chí xanh vào tất cả hoạt động khuyến công, kể cả hỗ trợ máy móc, đào tạo hay xúc tiến thương mại.

Tiếp đến cần Xây dựng mô hình điểm về KTTH tại từng địa phương, tập trung vào ngành có lợi thế: dừa, gỗ, lúa gạo, thủy sản… để làm điển hình nhân rộng; Hỗ trợ chuyển đổi số – xanh song song, như truy xuất nguồn gốc, blockchain nông sản, đánh giá phát thải; Kết nối doanh nghiệp đầu ngành để hình thành chuỗi tiêu thụ: DN lớn dẫn dắt – HTX/cơ sở nhỏ cung cấp đầu vào xanh; và cuối cùng là cần Đẩy mạnh đào tạo và truyền thông về tiêu dùng xanh, mua sắm xanh tại địa phương.

PV: Thưa PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân,  như vậy có thể khẳng định Chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà là nền tảng tạo ra giá trị mới cho sản phẩm công nghiệp nông thôn. Các cơ chế chính sách hiện nay của Nhà nước – từ EPR, KTTH đến tài chính xanh – đã tạo hành lang thuận lợi. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để địa phương và doanh nghiệp tận dụng hiệu quả để gia tăng thị trường cho sản phẩm CNNT Việt Nam.

PV: Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân về cuộc trao đổi này.

 

Thực hiện: Minh Hiển – Phòng KHCN

Tin mới nhất

[/lightbox]